Hiệu chuẩn cờ lê lực theo ISO 6789: phân loại, dung sai ±4 %, trình tự đo và lỗi khi sử dụng

Cờ lê lực theo ISO 6789-1 và ISO 6789-2: kiểu chỉ thị và kiểu cài đặt, dung sai ±4 %, trình tự hiệu chuẩn ba điểm mười lần đo, ảnh hưởng điểm đặt tay, đầu nối dài và cách bảo quản.

Bu lông nắp máy, bánh xe ô tô, mặt bích đường ống, kết cấu thép đều có mô men siết quy định. Siết thiếu thì mối ghép lỏng, rò rỉ; siết quá thì đứt bu lông, hỏng ren, nứt chi tiết. Cờ lê lực là dụng cụ đảm bảo mô men đó, và cũng là dụng cụ đo hay bị dùng sai nhất: rơi, để nguyên ở giá trị cài đặt, kéo sai chỗ, nối thêm ống tuýp. Bài này trình bày cách phân loại cờ lê lực theo ISO 6789-1, dung sai cho phép, trình tự hiệu chuẩn theo ISO 6789-2, cách đọc kết quả, ảnh hưởng của điểm đặt tay và đầu nối dài, và những lưu ý để cờ lê giữ được độ chính xác.

Cờ lê lực tự ngắt dải 20 đến 220 N·m có tay cầm cao su màu đen, núm vặn chỉnh giá trị và thang chia ở cuối thân, đầu cóc gắn đầu khẩu
Cờ lê lực tự ngắt (kiểu cài đặt) dải 20–220 N·m: vặn tay cầm để đặt giá trị, cờ lê kêu tách khi đạt mô men. Ảnh: Lead holder, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons.

1. Phân loại và dung sai theo ISO 6789-1

Ba thẻ: kiểu I chỉ thị đọc mô men đang tác dụng bằng thanh dầm, đồng hồ kim hoặc màn hình; kiểu II cài đặt đặt trước giá trị và kêu tách khi đạt; dung sai theo ISO 6789-1 cờ lê cộng trừ 4 phần trăm, loại tới 10 N·m cộng trừ 6 phần trăm, tua vít lực cộng trừ 6 phần trăm, điểm kiểm 20, 60, 100 phần trăm
Hai kiểu dụng cụ siết lực và dung sai (hình tự vẽ).

Bộ tiêu chuẩn ISO 6789:2017 gồm hai phần, thay cho bản ISO 6789:2003:

  • ISO 6789-1: yêu cầu kỹ thuật và phép thử sự phù hợp cho nhà sản xuất. Dụng cụ chia thành kiểu I (chỉ thị: thanh dầm, đồng hồ, điện tử) và kiểu II (cài đặt: tự ngắt, gập, đặt cố định), mỗi kiểu có nhiều loại ký hiệu bằng chữ cái.
  • ISO 6789-2: phương pháp hiệu chuẩn và đánh giá độ không đảm bảo, dùng cho phòng hiệu chuẩn.

Sai lệch cho phép là ±4 % giá trị đo với cờ lê, ±6 % với cờ lê nhỏ tới 10 N·m và với tua vít lực. Dung sai tính theo giá trị đo, không theo toàn thang, nên ở điểm 20 % cờ lê 100 N·m chỉ được sai ±0,8 N·m.

Nếu người dùng không tự đặt chu kỳ, ISO 6789-1 quy định hiệu chuẩn lại sau 12 tháng hoặc khoảng 5000 lần siết, tùy điều kiện nào đến trước. Phải hiệu chuẩn lại ngay khi cờ lê bị quá tải, rơi, sửa chữa.

2. Hiệu chuẩn theo ISO 6789-2

Sơ đồ đầu vuông của cờ lê cắm vào cảm biến mô men cố định trên bàn, lực F đặt vuông góc tại điểm đánh dấu trên tay cầm cách đầu vuông khoảng L, bộ chỉ thị hiện 60,90 N·m; bên phải là trình tự bốn bước cho mỗi điểm
Hiệu chuẩn cờ lê trên thiết bị đo mô men (hình tự vẽ, số liệu minh họa).

Thiết bị hiệu chuẩn gồm một cảm biến mô men (đã hiệu chuẩn, liên kết chuẩn tới chuẩn mô men hoặc lực và chiều dài) gắn chặt trên giá, bộ chỉ thị ghi giá trị đỉnh, và cơ cấu đặt lực bằng tay hoặc bằng động cơ. Độ không đảm bảo của thiết bị phải nhỏ hơn nhiều so với dung sai của cờ lê.

  1. Chuẩn bị: cờ lê ở nhiệt độ phòng thí nghiệm, kiểm tra hư hỏng, cóc, đầu vuông.
  2. Gia tải sơ bộ ba lần ở giá trị lớn nhất (cờ lê kiểu II: cài ở giá trị lớn nhất và cho ngắt ba lần) để ổn định cơ cấu và dầu mỡ.
  3. Đo ở ba điểm: 20 %, 60 %, 100 % giá trị lớn nhất (với kiểu II, điểm thấp nhất là giá trị cài đặt nhỏ nhất nếu lớn hơn 20 %).
  4. Cách đặt lực: tại điểm đánh dấu trên tay cầm, vuông góc với thân cờ lê và trục đầu vuông; tăng đều, phần cuối tăng chậm (ISO 6789 quy định 20 % cuối kéo dài khoảng 0,5–4 giây) để không vọt quá khi cờ lê ngắt.
  5. Mười lần đo mỗi điểm; với kiểu II, ghi giá trị đỉnh ở thời điểm ngắt.
  6. Thành phần độ không đảm bảo: ngoài độ lặp lại và thiết bị hiệu chuẩn, ISO 6789-2 yêu cầu đánh giá ảnh hưởng của vị trí đầu vuông (xoay 90°), mối nối giữa cờ lê và cảm biến, điểm đặt lực trên tay cầm, độ phân giải (kiểu I).

3. Ví dụ: cờ lê tự ngắt 20–100 N·m

Bảng kết quả hiệu chuẩn cờ lê tự ngắt 20 đến 100 N·m: tại 20 N·m trung bình 20,42, độ lệch chuẩn 0,09, sai lệch trung bình cộng 2,08 phần trăm, lần lệch nhất cộng 2,75 phần trăm; tại 60 N·m trung bình 60,91, sai lệch cộng 1,51 phần trăm; tại 100 N·m trung bình 101,22, sai lệch cộng 1,22 phần trăm; cả ba điểm đạt cộng trừ 4 phần trăm
Kết quả mười lần đo ở mỗi điểm (hình tự vẽ, số liệu minh họa).

Cờ lê luôn ngắt cao hơn giá trị cài đặt, sai lệch lớn nhất ở điểm 20 % (+2,08 % trung bình, +2,75 % lần lệch nhất). Mọi lần đo đều trong ±4 % nên cờ lê đạt. Tuy vậy, nếu tính thêm độ không đảm bảo của phép hiệu chuẩn, ở điểm 20 % khoảng dư còn lại không nhiều; người dùng siết bu lông quan trọng ở vùng giá trị nhỏ nên cân nhắc dùng cờ lê dải nhỏ hơn, để giá trị cần siết rơi vào khoảng 30–80 % dải của cờ lê.

4. Điểm đặt tay và đầu nối dài

Đồ thị mô men thật lệch so với giá trị cài đặt theo điểm đặt tay từ 360 đến 440 mm, cộng 0,66 phần trăm khi đặt tay ở 370 mm và trừ 0,56 phần trăm ở 430 mm so với điểm đánh dấu 400 mm; bên phải là công thức quy đổi khi dùng đầu nối dài thẳng hàng: cờ lê 400 mm nối thêm 100 mm, muốn 100 N·m tại bu lông thì đặt 80 N·m
Hai nguồn sai số khi dùng cờ lê ngoài thực tế (hình tự vẽ, tính theo mô hình đơn giản).
  • Điểm đặt tay: cơ cấu ngắt của cờ lê tự ngắt cảm nhận mô men quanh một chốt nằm gần đầu vuông, không phải mô men tại đầu vuông. Khi tay cầm lệch khỏi điểm đánh dấu, tỉ lệ giữa hai mô men đổi, nên mô men thật lệch khỏi giá trị cài đặt. Với mô hình trong hình, lệch 30 mm làm sai khoảng 0,6 %. Cầm đúng vị trí đánh dấu, không nối ống tuýp vào tay cầm.
  • Đầu nối dài thẳng hàng: nối thêm một đoạn E giữa đầu vuông và bu lông làm cánh tay đòn dài ra, mô men tại bu lông lớn hơn giá trị cài đặt. Quy đổi: Mđặt = Mcần × L / (L + E). Đầu nối hướng vuông góc với tay cầm thì không cần quy đổi.
  • Đầu khẩu cardan, đầu nối gập làm phương lực lệch, nên tránh khi siết mô men chính xác.

5. Lưu ý sử dụng và bảo quản

  • Trả về giá trị nhỏ nhất (không vặn quá mức nhỏ nhất) sau khi dùng cờ lê tự ngắt, để lò xo không bị mỏi.
  • Không dùng cờ lê lực để nới bu lông hoặc làm cờ lê thường; cờ lê một chiều không đo được chiều ngược lại.
  • Dừng ngay khi nghe tiếng kêu, không kéo thêm; với kiểu chỉ thị, đọc khi lực ổn định.
  • Cờ lê không dùng lâu ngày: cho ngắt vài lần ở giá trị thấp trước khi siết thật để dầu mỡ phân bố lại.
  • Rơi hoặc va đập thì gửi kiểm tra trước khi dùng tiếp; một cờ lê bị rơi có thể lệch vài phần trăm mà nhìn bên ngoài không thấy.
  • Kiểm tra giữa kỳ bằng thiết bị thử cờ lê tại xưởng: một điểm ở giá trị hay dùng, ghi vào sổ theo dõi.

6. Những lỗi hay gặp

LỗiHậu quảCách đúng
Cất cờ lê ở giá trị cài đặt caoLò xo mỏi, cờ lê ngắt sớm dầnTrả về giá trị nhỏ nhất sau khi dùng
Nối ống tuýp vào tay cầm cho đỡ nặng tayMô men sai, có thể quá tải cờ lêDùng cờ lê dải lớn hơn hoặc bộ nhân lực
Dùng đầu nối dài mà không quy đổiSiết quá mô men quy địnhTính Mđặt = Mcần × L/(L + E)
Dùng ở vùng 5–10 % dải đoSai số tương đối lớn, ngoài vùng được hiệu chuẩnChọn cờ lê để giá trị siết ở khoảng 30–80 % dải
Chỉ hiệu chuẩn một điểmKhông biết sai số ở giá trị khácHiệu chuẩn đủ ba điểm 20, 60, 100 %

7. Xem thêm


Tin tức liên quan

RS-485 là gì: cặp dây vi sai, điện trở đầu cuối và cách dùng module MAX485 với ESP32
RS-485 là gì: cặp dây vi sai, điện trở đầu cuối và cách dùng module MAX485 với ESP32

Giải thích chuẩn RS-485: tín hiệu vi sai trên hai dây A, B, điện trở đầu cuối 120 Ω, truyền bán song công với chân DE, RE. Kèm sơ đồ nối module MAX485 và chương trình hỏi đáp giữa hai mạch ESP32.

Đặt gia công xốp chống sốc theo yêu cầu: cần chuẩn bị gì, quy trình ra sao
Đặt gia công xốp chống sốc theo yêu cầu: cần chuẩn bị gì, quy trình ra sao

Hướng dẫn đặt gia công xốp chống sốc theo yêu cầu tại PYWORLD: lập bảng kê thiết bị, đo kích thước, đọc bản bố trí khoang, chọn vali và năm bước từ gửi thông tin đến lắp thử.

Cảm biến độ ẩm: điện dung, điện trở, ẩm kế khô ướt – cấu tạo, nguyên lý, chế tạo và điểm sương
Cảm biến độ ẩm: điện dung, điện trở, ẩm kế khô ướt – cấu tạo, nguyên lý, chế tạo và điểm sương

Cảm biến độ ẩm hoạt động thế nào: độ ẩm tương đối, tuyệt đối, điểm sương; cảm biến điện dung polyme, điện trở, ẩm kế tóc, khô ướt, gương lạnh; chế tạo và đọc SHT31 bằng ESP32.

Tổng quan các chuẩn giao tiếp cho vi điều khiển: UART, I2C, SPI, RS-485, CAN và cách chọn
Tổng quan các chuẩn giao tiếp cho vi điều khiển: UART, I2C, SPI, RS-485, CAN và cách chọn

So sánh các chuẩn giao tiếp thường gặp với vi điều khiển: UART, I2C, SPI, 1-Wire, RS-485, CAN, Ethernet và không dây. Giải thích tín hiệu vi sai, ba lớp của một hệ giao tiếp và cách chọn chuẩn theo nhu cầu.

Chuẩn lực: máy tải trọng chết, đòn bẩy, khuếch đại thủy lực, máy so sánh và gia tốc trọng trường
Chuẩn lực: máy tải trọng chết, đòn bẩy, khuếch đại thủy lực, máy so sánh và gia tốc trọng trường

Bốn kiểu máy chuẩn lực: tải trọng chết, đòn bẩy, khuếch đại thủy lực, máy so sánh; cách tính lực từ quả cân, vì sao g tại Việt Nam lệch 0,25 % và chuỗi liên kết chuẩn lực.

Điều khiển hồng ngoại hoạt động thế nào: sóng mang 38 kHz, giao thức NEC và ESP32
Điều khiển hồng ngoại hoạt động thế nào: sóng mang 38 kHz, giao thức NEC và ESP32

Giải thích điều khiển hồng ngoại: sóng mang 38 kHz, mắt thu và giao thức NEC với khung 32 bit, mã lặp. Hướng dẫn tự giải mã phím điều khiển và tự phát lệnh bằng ESP32, không dùng thư viện ngoài.

Cảm biến pH: cấu tạo điện cực thủy tinh, nguyên lý Nernst, cách chế tạo và đo pH bằng ESP32
Cảm biến pH: cấu tạo điện cực thủy tinh, nguyên lý Nernst, cách chế tạo và đo pH bằng ESP32

Cảm biến pH hoạt động thế nào: thang pH, điện cực thủy tinh kết hợp, phương trình Nernst và bù nhiệt độ, hiệu chuẩn, bảo quản, cách chế tạo điện cực và đo pH bằng module với ESP32.

Cảm biến độ dẫn điện (EC, TDS): cấu tạo, nguyên lý, chế tạo và tự làm đầu đo với ESP32
Cảm biến độ dẫn điện (EC, TDS): cấu tạo, nguyên lý, chế tạo và tự làm đầu đo với ESP32

Cảm biến độ dẫn điện hoạt động thế nào: EC và TDS, hằng số bình đo, vì sao phải đo bằng dòng xoay chiều, loại hai điện cực, bốn điện cực, cảm ứng, cách chế tạo và tự làm đầu đo với ESP32.


Bình luận
Đã thêm vào giỏ hàng