Chuẩn lực: máy tải trọng chết, đòn bẩy, khuếch đại thủy lực, máy so sánh và gia tốc trọng trường

Bốn kiểu máy chuẩn lực: tải trọng chết, đòn bẩy, khuếch đại thủy lực, máy so sánh; cách tính lực từ quả cân, vì sao g tại Việt Nam lệch 0,25 % và chuỗi liên kết chuẩn lực.

Mọi load cell, cân điện tử, máy thử kéo nén hay cờ lê lực trong nhà máy đều phải được so với một thứ "biết chắc lực là bao nhiêu". Thứ đó là máy chuẩn lực. Khác với chiều dài hay khối lượng, lực không có vật mẫu cất trong tủ: lực chuẩn phải được tạo ra bằng quả cân và trọng trường, hoặc khuếch đại từ đó. Bài này giới thiệu bốn kiểu máy chuẩn lực, cách tính lực từ quả cân, vì sao gia tốc trọng trường tại Việt Nam quan trọng, chuỗi liên kết chuẩn của phép đo lực và những lưu ý khi dùng máy chuẩn lực.

1. Lực được định nghĩa và tạo ra thế nào

Lực là đại lượng dẫn xuất trong hệ SI: 1 newton (N) là lực làm vật 1 kg có gia tốc 1 m/s². Vì vậy lực chuẩn được tạo từ ba thứ có liên kết chuẩn riêng: khối lượng của quả cân (liên kết tới kilôgam, từ 2019 định nghĩa qua hằng số Planck), gia tốc trọng trường g tại nơi đặt máy (đo bằng trọng lực kế), và chiều dài hoặc diện tích khi có khuếch đại cơ học.

Đơn vị cũ kilôgam lực (kgf) bằng đúng 9,80665 N, tính với g chuẩn quy ước. Đây là nguồn nhầm lẫn lớn, sẽ thấy ở mục 3.

2. Bốn kiểu máy chuẩn lực

Bốn sơ đồ nguyên lý máy chuẩn lực: tải trọng chết với quả cân treo trực tiếp dưới lực kế, F bằng m nhân g; khuếch đại đòn bẩy với lực kế ở cánh tay ngắn L2 và quả cân ở cánh tay dài L1; khuếch đại thủy lực với quả cân trên píttông nhỏ A1 truyền áp suất sang píttông lớn A2 ép lực kế; máy so sánh với lực kế chuẩn và lực kế cần hiệu chuẩn mắc nối tiếp, lực tạo bằng kích
Nguyên lý bốn kiểu máy tạo lực chuẩn (hình tự vẽ).
  • Máy tải trọng chết (deadweight): quả cân đã biết khối lượng treo trực tiếp lên lực kế. Đây là chuẩn lực chính xác nhất, độ không đảm bảo tương đối cỡ 2·10⁻⁵ ở các viện đo lường quốc gia. Nhược điểm là cồng kềnh: muốn tạo 1 MN cần khoảng 100 tấn quả cân, nên máy tải trọng chết lớn chỉ có ở rất ít nơi.
  • Máy khuếch đại đòn bẩy: quả cân đặt ở cánh tay dài, lực kế ở cánh tay ngắn; lực được nhân lên theo tỉ số L₁/L₂. Ít quả cân hơn nhưng phải xác định chính xác tỉ số cánh tay, ma sát ở dao tựa và độ võng của đòn. Quy trình hiệu chuẩn máy chuẩn lực kiểu cánh tay đòn trong nước là ĐLVN 77:2001.
  • Máy khuếch đại thủy lực: quả cân đặt trên píttông nhỏ, áp suất dầu truyền sang píttông lớn ép lên lực kế; lực nhân theo tỉ số diện tích A₂/A₁. Tạo được lực vài MN. Nguồn sai số chính là ma sát píttông, nhiệt độ dầu và biến dạng xi lanh.
  • Máy so sánh: lực kế chuẩn (đã hiệu chuẩn trên máy tải trọng chết) mắc nối tiếp với lực kế cần hiệu chuẩn; lực tạo bằng kích thủy lực hoặc vít me, giá trị lực đọc trên lực kế chuẩn. Gọn, nhanh, rẻ, nên phần lớn phòng hiệu chuẩn lực dùng kiểu này. Với lực rất lớn, ghép nhiều lực kế chuẩn song song (build-up).

3. Tính lực từ quả cân: trọng trường và lực đẩy không khí

Bảng tính lực do quả cân 1000 kg tạo ra tại TP.HCM: g khoảng 9,7821 mét trên giây bình phương, hệ số lực đẩy không khí 0,999849, lực thật khoảng 9780,6 N; nếu dùng g chuẩn 9,80665 thì tính ra 9806,6 N, lệch 0,27 phần trăm
Lực do quả cân tạo ra phụ thuộc g tại chỗ và lực đẩy không khí (hình tự vẽ, số liệu minh họa).

Lực mà một quả cân tác dụng lên lực kế không phải m·g đơn thuần, vì không khí đẩy ngược lên quả cân:

F = m · g · (1 − ρkk / ρqc)

với ρkk là khối lượng riêng không khí (khoảng 1,2 kg/m³) và ρqc là khối lượng riêng vật liệu quả cân (khoảng 7950 kg/m³ với thép không gỉ). Lực đẩy không khí làm lực giảm khoảng 0,015 %, nhỏ nhưng không bỏ qua được với chuẩn cấp cao.

Điều lớn hơn nhiều là gia tốc trọng trường:

Biểu đồ cột gia tốc trọng trường gần đúng tại Hà Nội 9,7869, Đà Nẵng 9,7842, TP.HCM 9,7821 so với g chuẩn 9,80665 mét trên giây bình phương; lực thiếu nếu dùng g chuẩn: Hà Nội 0,20 phần trăm, Đà Nẵng 0,23 phần trăm, TP.HCM 0,25 phần trăm
Gia tốc trọng trường tại ba thành phố, tính gần đúng theo công thức trọng lực chuẩn (hình tự vẽ).

Việt Nam nằm gần xích đạo nên g nhỏ hơn g chuẩn 9,80665 m/s² khoảng 0,2–0,25 %. Một bộ quả cân 1000 kg ở TP.HCM chỉ tạo khoảng 9780 N, không phải 9807 N. Sai lệch 0,25 % lớn hơn cả sai số cho phép của lực kế cấp 0,5 hay cấp 1. Hậu quả thực tế:

  • Dùng quả cân để kiểm tra load cell, cân treo, máy thử mà tính lực bằng g chuẩn sẽ cho sai số hệ thống khoảng 0,2–0,25 %.
  • Cân điện tử hiệu chuẩn ở nơi khác (khác g) rồi chuyển đến nơi dùng sẽ chỉ sai theo tỉ lệ chênh lệch g, nên cân cấp chính xác cao phải hiệu chuẩn lại tại chỗ.
  • Máy chuẩn lực tải trọng chết luôn dùng g đo bằng trọng lực kế ngay tại vị trí máy, vì công thức gần đúng còn sai lệch do địa hình và cấu trúc địa chất.

4. Chuỗi liên kết chuẩn của phép đo lực

Tháp liên kết chuẩn lực năm bậc từ trên xuống: kilôgam SI và gia tốc g; máy chuẩn lực tải trọng chết ở viện đo lường quốc gia khoảng 0,002 phần trăm; lực kế chuẩn cấp 00 và 0,5 hiệu chuẩn theo ISO 376 khoảng 0,002 đến 0,01 phần trăm; máy so sánh và máy thử vật liệu theo ISO 7500-1; load cell, cân, cờ lê lực tại nhà máy 0,1 đến 1 phần trăm
Chuỗi liên kết chuẩn lực, độ không đảm bảo tăng dần khi đi xuống (hình tự vẽ, số liệu tham khảo).

Ở Việt Nam, chuẩn đo lường quốc gia về lực do Viện Đo lường Việt Nam (VMI) giữ. Từ đó, lực kế chuẩn của các phòng hiệu chuẩn được hiệu chuẩn theo ISO 376 (quy trình trong nước ĐLVN 56:1999, TCVN 10598:2014). Các lực kế chuẩn này lại dùng để hiệu chuẩn máy so sánh lực, kiểm định máy thử kéo nén (ISO 7500-1, ĐLVN 109:2002) và hiệu chuẩn load cell tại hiện trường.

ISO 376 đặt yêu cầu cho chính máy chuẩn lực dùng để hiệu chuẩn lực kế: độ không đảm bảo của lực tạo ra không quá 0,01 % khi hiệu chuẩn lực kế cấp 00, 0,02 % cho cấp 0,5, 0,05 % cho cấp 1 và 0,1 % cho cấp 2.

5. So sánh các kiểu máy

Bảng so sánh năm kiểu máy chuẩn lực theo ưu điểm, hạn chế và độ không đảm bảo tương đối điển hình: tải trọng chết 2 đến 5 phần trăm nghìn; đòn bẩy khoảng 1 phần vạn; thủy lực 1 đến 5 phần vạn; máy so sánh 5 phần vạn đến 1 phần nghìn; ghép nhiều lực kế khoảng 1 phần nghìn
So sánh các kiểu máy chuẩn lực, số liệu tham khảo (hình tự vẽ).

Với một phòng thí nghiệm hiệu chuẩn lực thông thường, máy so sánh dùng lực kế chuẩn cấp 00 hoặc 0,5 là lựa chọn kinh tế. Độ không đảm bảo của máy so sánh gồm: độ không đảm bảo của lực kế chuẩn (từ giấy chứng nhận), độ trôi của lực kế chuẩn giữa hai lần hiệu chuẩn, độ phân giải và ổn định của bộ chỉ thị, ảnh hưởng nhiệt độ, sai lệch do lệch tâm và gá lắp.

6. Những lưu ý khi dùng máy chuẩn lực

  • Đúng tâm, đúng trục: lực lệch tâm hoặc nghiêng làm phát sinh mô men uốn, lực kế chỉ sai. Dùng đệm tì, khớp cầu, bộ gá đúng theo khuyến nghị của ISO 376 và của nhà sản xuất lực kế.
  • Thời gian ổn định: sau mỗi cấp lực, chờ số chỉ ổn định (thường 30 giây trở lên) rồi mới đọc; với máy tải trọng chết, chờ quả cân hết dao động.
  • Gia tải sơ bộ: gia tải tới lực lớn nhất ba lần trước khi đo để ổn định các mặt tiếp xúc, đúng như quy trình hiệu chuẩn lực kế.
  • Nhiệt độ: giữ ổn định trong khoảng ±1 °C trong suốt phép đo, để lực kế cân bằng nhiệt với phòng ít nhất vài giờ trước khi hiệu chuẩn.
  • Kéo và nén là hai phép hiệu chuẩn khác nhau: lực kế dùng cả hai chiều phải được hiệu chuẩn cả hai chiều.
  • Không quá tải: quá tải dù ngắn có thể làm thay đổi đặc tính lực kế; mọi lần quá tải phải ghi lại và hiệu chuẩn lại.
  • Quả cân cũng cần hiệu chuẩn: khối lượng quả cân thay đổi do mòn, bám bẩn, rỉ; giấy hiệu chuẩn khối lượng phải còn hiệu lực.

7. Những lỗi hay gặp

LỗiHậu quảCách đúng
Dùng quả cân và g chuẩn 9,80665 để tính lựcSai hệ thống 0,2–0,25 % ở Việt NamDùng g tại chỗ (đo hoặc lấy từ số liệu trọng lực)
Đổi kgf sang N bằng hệ số 9,8 hoặc 10Sai 0,07 % hoặc 2 %1 kgf = 9,80665 N chính xác
Gá lực kế không có đệm tì, khớp cầuLệch tâm, kết quả phụ thuộc cách lắpDùng bộ gá đúng chuẩn, kiểm tra bằng cách xoay lực kế
Đọc số ngay khi vừa đặt lựcKết quả lẫn hiện tượng rão và dao độngChờ ổn định theo quy trình
Dùng máy so sánh mà lực kế chuẩn đã quá hạn hiệu chuẩnĐứt chuỗi liên kết chuẩnTheo dõi hạn và kiểm tra giữa kỳ lực kế chuẩn

8. Xem thêm


Tin tức liên quan

Sai số Abbe, sai số cosin và giãn nở nhiệt khi đo chuyển vị, kích thước: cách tính và cách giảm
Sai số Abbe, sai số cosin và giãn nở nhiệt khi đo chuyển vị, kích thước: cách tính và cách giảm

Ba nguồn sai số có ở mọi phép đo kích thước: sai số Abbe khi đường đo lệch thang đo, sai số cosin khi trục đo lệch chuyển động, giãn nở nhiệt; cách tính, ví dụ ngân sách và quy tắc bố trí.

Hiệu chuẩn transmitter áp suất 4–20 mA: sơ đồ vòng, sai số theo khoảng đo, lúc nhận và sau chỉnh
Hiệu chuẩn transmitter áp suất 4–20 mA: sơ đồ vòng, sai số theo khoảng đo, lúc nhận và sau chỉnh

Hiệu chuẩn transmitter áp suất 4–20 mA: sơ đồ vòng dòng điện, công thức dòng và sai số theo phần trăm khoảng đo, trình tự lúc nhận và sau chỉnh, ví dụ 0–16 bar, lưu ý về HART và điểm 0.

Jack Type-C sạc pin loại 4 dây: một cổng vừa sạc pin 1S vừa truyền dữ liệu USB
Jack Type-C sạc pin loại 4 dây: một cổng vừa sạc pin 1S vừa truyền dữ liệu USB

Jack Type-C tích hợp mạch sạc loại 4 dây có thêm D+ D− để một cổng vừa sạc pin 1S vừa nối USB với máy tính. Bài hướng dẫn xác định từng dây bằng đồng hồ, nối vào vi điều khiển và các lưu ý khi dùng chung cổng.

Vòng dòng 4-20 mA là gì và cách đọc cảm biến 4-20 mA bằng ESP32
Vòng dòng 4-20 mA là gì và cách đọc cảm biến 4-20 mA bằng ESP32

Giải thích vòng dòng 4-20 mA: vì sao dùng dòng điện, vì sao bắt đầu từ 4 mA, cách đổi ra giá trị đo và ngưỡng báo lỗi. Hướng dẫn đọc bằng ESP32 qua điện trở shunt 120 Ω, với ADC có sẵn và với ADS1115.

Modbus RTU (phần 2): ESP32 làm thiết bị tớ, tự xử lý khung tin và mã lỗi
Modbus RTU (phần 2): ESP32 làm thiết bị tớ, tự xử lý khung tin và mã lỗi

Hướng dẫn biến ESP32 thành thiết bị tớ Modbus RTU qua RS-485: lập bảng thanh ghi, tách khung bằng khoảng lặng, kiểm tra CRC, xử lý mã hàm 0x01, 0x03, 0x05, 0x06, 0x10 và trả lời mã lỗi, không dùng thư viện.

ISO/IEC 17025 và công nhận VILAS: yêu cầu với phòng hiệu chuẩn, đọc danh mục, CMC và chỉ số En
ISO/IEC 17025 và công nhận VILAS: yêu cầu với phòng hiệu chuẩn, đọc danh mục, CMC và chỉ số En

ISO/IEC 17025 yêu cầu gì với phòng hiệu chuẩn, công nhận VILAS có ý nghĩa gì, cách đọc danh mục phạm vi công nhận, CMC khác độ không đảm bảo, so sánh liên phòng và chỉ số En.

1-Wire là gì: khe thời gian, mã ROM và cách đọc DS18B20 bằng ESP32
1-Wire là gì: khe thời gian, mã ROM và cách đọc DS18B20 bằng ESP32

Giải thích giao tiếp 1-Wire: một dây dữ liệu, điện trở kéo lên, bốn kiểu khe thời gian, mã ROM 64 bit và CRC. Kèm hai chương trình ESP32 tự viết giao thức để đọc mã ROM và nhiệt độ DS18B20.

Jack Type-C cái và điện trở 5,1 kΩ ở CC1, CC2: vì sao cắm sạc Type-C không lên nguồn
Jack Type-C cái và điện trở 5,1 kΩ ở CC1, CC2: vì sao cắm sạc Type-C không lên nguồn

Jack Type-C cái để hở CC1, CC2 thì sạc có cổng ra Type-C không cấp điện. Bài giải thích sơ đồ chân đầu cái, cách nguồn nhận ra thiết bị, cách gắn hai điện trở 5,1 kΩ và bảng tra lỗi thường gặp.


Bình luận
Đã thêm vào giỏ hàng