Các nguồn sai số khi đo lực bằng load cell: lệch tâm, rão, trễ, nhiệt độ và ngân sách sai số

Vì sao đo lực thực tế sai hơn phiếu thông số load cell: lệch tâm và gá lắp, rão, trễ, phi tuyến, nhiệt độ, cáp và bộ đọc; ví dụ ngân sách sai số và danh sách kiểm tra nhanh.

Phiếu thông số của một load cell tốt ghi sai số tổng hợp chỉ khoảng 0,02 % toàn thang. Vậy mà đo thực tế lại lệch 0,1–0,5 %, thậm chí hơn. Khoảng cách đó đến từ những thứ không nằm trong phiếu thông số: lực đặt lệch tâm, lực ngang, nhiệt độ thay đổi, thời điểm đọc số, cáp và bộ đọc. Bài này đi qua từng nguồn sai số khi đo lực bằng load cell, cho biết độ lớn điển hình, cách nhận ra và cách giảm, rồi gộp lại thành một ngân sách sai số cụ thể để thấy nguồn nào thực sự quyết định kết quả.

1. Bản đồ các nguồn sai số

Hình load cell dạng trụ trên đế với sáu nhãn nguồn sai số: lực lệch tâm và nghiêng, lực ngang và mô men xoắn, nhiệt độ và độ ẩm, rão trễ phi tuyến, cáp nguồn kích bộ đọc, gá lắp đệm tì ren
Sáu nhóm nguồn sai số quanh một load cell (hình tự vẽ).

Có thể chia các nguồn sai số thành hai nhóm:

  • Đặc tính của chính load cell: phi tuyến, trễ, rão, hệ số nhiệt độ, độ lặp lại. Nhà sản xuất ghi trên phiếu thông số, hiệu chuẩn đo được và một phần hiệu chính được.
  • Điều kiện sử dụng: lực lệch tâm, lực ngang, gá lắp, nhiệt độ thực tế, cáp, bộ đọc, cách đọc. Phiếu thông số không nói gì về nhóm này, và đây thường là nhóm lớn hơn.

2. Lực lệch tâm, lực ngang và gá lắp

Load cell được thiết kế để đo lực dọc trục đi qua tâm. Khi lực lệch tâm hoặc nghiêng, phần tử đàn hồi chịu thêm mô men uốn; strain gauge không bù hết nên độ nhạy thay đổi. Lực ngang và mô men xoắn (do bồn giãn nở nhiệt, ống nối cứng, va chạm của vật liệu) cũng làm số chỉ sai.

  • Nhận ra: xoay load cell hoặc đổi vị trí đặt tải, số chỉ thay đổi; kết quả hiệu chuẩn theo ISO 376 có độ tái lập b lớn hơn nhiều so với độ lặp lại b'.
  • Giảm: dùng đệm tì, khớp cầu, chân đế tự lựa, thanh giằng chống lật; bề mặt tì phẳng, đủ cứng; ren lắp đúng chiều sâu và mô men siết theo hướng dẫn.
  • Nguyên tắc: lắp load cell giống hệt lúc hiệu chuẩn, dùng cùng phụ kiện.

3. Rão: số chỉ thay đổi khi giữ tải

Đồ thị số chỉ lệch theo thời gian khi giữ tải 100 phần trăm trong 30 phút: tăng 0,009 phần trăm sau 5 phút và 0,020 phần trăm sau 30 phút; sau khi bỏ tải, số chỉ không tải giảm dần về 0
Rão khi giữ tải và hồi phục khi bỏ tải, mô hình minh họa (hình tự vẽ).

Dưới tải không đổi, vật liệu đàn hồi và lớp keo dán strain gauge biến dạng thêm rất chậm, số chỉ trôi dần. Load cell tốt có rão khoảng 0,02 % sau 30 phút; load cell rẻ có thể gấp nhiều lần. Rão quan trọng với cân bồn chứa hàng giờ, giá thử giữ tải lâu, kiểm tra kết cấu.

  • Đọc số vào thời điểm cố định sau khi đặt tải, giống lúc hiệu chuẩn (ISO 376 đọc sau khoảng 30 giây).
  • Phép đo giữ tải lâu cần load cell có thông số rão tốt và tính rão vào độ không đảm bảo.
  • Sau khi bỏ tải lâu, điểm 0 cần thời gian hồi phục: chờ trước khi trừ bì cho lần đo kế tiếp.

4. Trễ và phi tuyến

Đồ thị sai số so với đường thẳng theo tải từ 0 đến 100 phần trăm: nhánh tăng tải và nhánh giảm tải tạo thành vòng, đường nét đứt là phi tuyến trung bình hai chiều, chênh hai nhánh ở 50 phần trăm là 0,020 phần trăm toàn thang
Vòng trễ và độ phi tuyến của một load cell điển hình (hình tự vẽ, số liệu minh họa).
  • Phi tuyến là độ cong của đặc tuyến so với đường thẳng. Hiệu chính bằng đa thức bậc hai hoặc ba từ kết quả hiệu chuẩn bỏ được gần hết; chỉ dùng hệ số tuyến tính thì phi tuyến nằm nguyên trong sai số.
  • Trễ là chênh lệch giữa khi tăng và khi giảm tải ở cùng một lực. Nếu phép đo chỉ có chiều tăng (như thử kéo), dùng đường tăng tải và không chịu sai số trễ. Nếu đo cả khi giảm tải (cân xuất hàng từ bồn), phải tính trễ vào độ không đảm bảo hoặc hiệu chuẩn riêng nhánh giảm.

5. Nhiệt độ

Đồ thị sai số theo chênh nhiệt độ từ 0 đến 20 độ C cho ba mức tải 0, 50 và 100 phần trăm; với hệ số điểm 0 bằng 0,002 phần trăm toàn thang mỗi độ và độ nhạy 0,0015 phần trăm mỗi độ, chênh 20 độ gây sai 0,040 đến 0,070 phần trăm toàn thang
Trôi điểm 0 và trôi độ nhạy theo nhiệt độ, hệ số điển hình (hình tự vẽ).

Nhiệt độ ảnh hưởng theo hai cách: trôi điểm 0 (cộng một lượng không đổi vào mọi số chỉ) và trôi độ nhạy (tỉ lệ với lực đang đo). Ngoài ra, chênh nhiệt độ giữa các phần của load cell (nắng chiếu một phía, vật liệu nóng chảy qua) gây sai số lớn hơn nhiều so với nhiệt độ đều.

  • Trừ điểm 0 ngay trước mỗi lần đo, khi không tải, loại được phần trôi điểm 0.
  • Che nắng, cách nhiệt cho load cell ngoài trời; để load cell cân bằng nhiệt trước khi đo.
  • Hiệu chuẩn ở nhiệt độ gần với lúc sử dụng, hoặc tính phần chênh nhiệt độ vào độ không đảm bảo.

6. Cáp, nguồn kích và bộ đọc

  • Điện trở cáp làm giảm điện áp kích thích thật ở load cell; điện trở cáp đổi theo nhiệt độ. Nối 6 dây có dây sense để bộ đọc đo và bù; nếu nối 4 dây, hiệu chuẩn với đúng sợi cáp đó và không cắt nối lại.
  • Đo tỉ lệ (ratiometric): bộ đọc lấy chính điện áp kích thích làm điện áp tham chiếu cho ADC, nên dao động nguồn kích không làm sai kết quả. Module HX711 hoạt động theo nguyên lý này khi load cell và chân tham chiếu dùng chung nguồn.
  • Nhiễu và độ phân giải: tín hiệu toàn thang chỉ vài mV; cáp chống nhiễu nối đất một đầu, tránh đi cùng cáp động lực, lọc trung bình đủ để số chỉ ổn định.

7. Gộp lại: ngân sách sai số

Bảng ngân sách sai số khi đo 5 kN bằng load cell 10 kN gồm chín nguồn: hiệu chuẩn, phi tuyến, trễ, lặp lại, nhiệt độ điểm 0, nhiệt độ độ nhạy, rão, lệch tâm và gá lắp, độ phân giải; lệch tâm và gá lắp chiếm 63 phần trăm, độ không đảm bảo kết hợp 0,036 phần trăm toàn thang, mở rộng 0,073 phần trăm tức 7,3 N
Ví dụ ngân sách sai số, số liệu điển hình để minh họa (hình tự vẽ).

Ví dụ: đo 5 kN bằng load cell 10 kN, hiệu chuẩn ở 23 °C, dùng ở 30 °C, đọc sau 5 phút, đo cả chiều tăng và giảm. Gộp chín nguồn theo căn tổng bình phương, độ không đảm bảo mở rộng khoảng 7,3 N, tức 0,15 % của lực đo. Hai bài học rút ra:

  • Gá lắp quyết định: riêng lệch tâm và gá lắp chiếm hơn 60 % tổng. Đầu tư vào phụ kiện gá đúng thường hiệu quả hơn mua load cell đắt tiền.
  • Lực nhỏ so với toàn thang thì sai số tương đối lớn: nhiều nguồn tính theo toàn thang, nên đo 1 kN bằng load cell 10 kN sẽ có sai số tương đối gấp năm lần so với ví dụ. Chọn load cell để lực thường dùng nằm trong khoảng 20–80 % toàn thang.

8. Danh sách kiểm tra nhanh

Hiện tượngNguyên nhân hay gặpKiểm tra
Số chỉ đổi khi đặt vật ở vị trí khácLệch tâm, hộp nối chưa cân chỉnh gócThử cùng tải ở nhiều vị trí
Điểm 0 trôi theo giờ trong ngàyNhiệt độ, nắng chiếu, ẩm vào cápGhi điểm 0 và nhiệt độ theo thời gian
Số chỉ tăng dần khi giữ tảiRão, vật liệu chảy dồn, gá trượtGiữ tải chuẩn 30 phút, ghi số chỉ
Không về 0 sau khi bỏ tảiQuá tải đã làm biến dạng dư, kẹt cơ khíĐo điện trở cầu, so với lúc mới
Số chỉ nhảy, không ổn địnhNhiễu, tiếp địa kém, rungĐo khi tắt động cơ, đổi tuyến cáp

9. Xem thêm


Tin tức liên quan

Chuẩn lực: máy tải trọng chết, đòn bẩy, khuếch đại thủy lực, máy so sánh và gia tốc trọng trường
Chuẩn lực: máy tải trọng chết, đòn bẩy, khuếch đại thủy lực, máy so sánh và gia tốc trọng trường

Bốn kiểu máy chuẩn lực: tải trọng chết, đòn bẩy, khuếch đại thủy lực, máy so sánh; cách tính lực từ quả cân, vì sao g tại Việt Nam lệch 0,25 % và chuỗi liên kết chuẩn lực.

Modbus TCP/IP (phần 2): ESP32 làm máy khách và cổng chuyển đổi Modbus TCP sang RTU
Modbus TCP/IP (phần 2): ESP32 làm máy khách và cổng chuyển đổi Modbus TCP sang RTU

Hướng dẫn dùng ESP32 làm máy khách Modbus TCP đọc thanh ghi của một thiết bị trong mạng, và làm cổng chuyển đổi Modbus TCP sang Modbus RTU qua RS-485: cách đổi khung, mã thiết bị, thời gian chờ, mã lỗi 0x0B.

Modbus RTU (phần 2): ESP32 làm thiết bị tớ, tự xử lý khung tin và mã lỗi
Modbus RTU (phần 2): ESP32 làm thiết bị tớ, tự xử lý khung tin và mã lỗi

Hướng dẫn biến ESP32 thành thiết bị tớ Modbus RTU qua RS-485: lập bảng thanh ghi, tách khung bằng khoảng lặng, kiểm tra CRC, xử lý mã hàm 0x01, 0x03, 0x05, 0x06, 0x10 và trả lời mã lỗi, không dùng thư viện.

CAN bus (phần 1): tín hiệu, khung tin, phân xử ưu tiên và gửi nhận bằng ESP32
CAN bus (phần 1): tín hiệu, khung tin, phân xử ưu tiên và gửi nhận bằng ESP32

Giải thích CAN bus: hai dây CAN_H, CAN_L, mức trội và mức lặn, khung tin có ID 11 bit, phân xử ưu tiên, CRC và ACK. Kèm hai chương trình ESP32 dùng bộ điều khiển TWAI: tự kiểm tra và hai nút gửi nhận.

Hiệu chuẩn transmitter áp suất 4–20 mA: sơ đồ vòng, sai số theo khoảng đo, lúc nhận và sau chỉnh
Hiệu chuẩn transmitter áp suất 4–20 mA: sơ đồ vòng, sai số theo khoảng đo, lúc nhận và sau chỉnh

Hiệu chuẩn transmitter áp suất 4–20 mA: sơ đồ vòng dòng điện, công thức dòng và sai số theo phần trăm khoảng đo, trình tự lúc nhận và sau chỉnh, ví dụ 0–16 bar, lưu ý về HART và điểm 0.

Thực hành hiệu chuẩn load cell bằng quả cân với HX711 và ESP32: khớp đa thức và độ không đảm bảo
Thực hành hiệu chuẩn load cell bằng quả cân với HX711 và ESP32: khớp đa thức và độ không đảm bảo

Tự hiệu chuẩn load cell 5 kg bằng quả cân với HX711, ESP32: ghi điểm kèm độ lệch chuẩn, khớp đa thức bậc 1, bậc 2, lưu hệ số, kiểm tra lại và ước lượng độ không đảm bảo.

Cảm biến gia tốc: cấu tạo MEMS răng lược, áp điện, cách chế tạo và đo góc nghiêng bằng ESP32
Cảm biến gia tốc: cấu tạo MEMS răng lược, áp điện, cách chế tạo và đo góc nghiêng bằng ESP32

Cảm biến gia tốc hoạt động thế nào: mô hình khối lượng – lò xo, MEMS răng lược điện dung vi sai, chế tạo vi cơ bề mặt, áp điện, servo, đo góc nghiêng và đọc MPU-6050 bằng ESP32.

Jack Type-C cái và điện trở 5,1 kΩ ở CC1, CC2: vì sao cắm sạc Type-C không lên nguồn
Jack Type-C cái và điện trở 5,1 kΩ ở CC1, CC2: vì sao cắm sạc Type-C không lên nguồn

Jack Type-C cái để hở CC1, CC2 thì sạc có cổng ra Type-C không cấp điện. Bài giải thích sơ đồ chân đầu cái, cách nguồn nhận ra thiết bị, cách gắn hai điện trở 5,1 kΩ và bảng tra lỗi thường gặp.


Bình luận
Đã thêm vào giỏ hàng