Đo điện trở cách điện bằng megohmmeter: động cơ ba pha, tủ điện, chỉ số PI và cách đọc kết quả

Đo điện trở cách điện bằng megohmmeter: chọn điện áp thử theo IEC 60364-6, đo động cơ ba pha và tủ điện an toàn, chỉ số PI, DAR, quy đổi nhiệt độ, đọc kết quả, lỗi thường gặp khi đo.

Đo điện trở cách điện là phép kiểm tra lớp cách điện của động cơ, tủ điện, cáp còn tốt hay đã suy giảm. Đồng hồ vạn năng không làm được việc này vì chỉ cấp vài volt, trong khi lỗi cách điện thường chỉ lộ ra ở điện áp cao. Megohmmeter (còn gọi là mêgômmét, máy đo cách điện) cấp 250–1000 V một chiều rồi đo dòng rò cực nhỏ. Bài này chỉ cách chọn điện áp thử, đo động cơ ba pha và tủ điện an toàn, đọc số đo, và hiểu chỉ số phân cực PI.

Cảnh báo an toàn: máy phát ra điện áp cao có thể gây giật. Chỉ người có kiến thức điện mới nên thực hiện. Luôn cắt nguồn, khóa aptomat, kiểm tra không còn điện trước khi nối máy. Không chạm vào đầu đo trong lúc thử. Sau khi đo phải xả điện, vì cuộn dây, cáp dài tích điện như tụ, có thể gây giật sau khi đã tháo máy.

1. Nguyên lý đo

Máy cấp điện áp một chiều vào giữa dây dẫn và vỏ, hoặc giữa hai dây dẫn, đo dòng chảy qua cách điện, rồi tính R = U / I. Vì cách điện tốt có dòng chỉ vài nanoampe, kết quả thường là vài trăm MΩ đến hàng GΩ. Dòng này gồm ba thành phần: dòng nạp tụ giảm rất nhanh, dòng hấp thụ của điện môi giảm chậm, và dòng rò gần như không đổi. Chỉ dòng rò mới phản ánh lỗi; nên đo đủ lâu thì số mới có ý nghĩa, và số đọc tăng dần theo thời gian là bình thường.

2. Chọn điện áp thử và mức đạt

Bảng điện áp thử theo IEC 60364-6: SELV PELV 250 V tối thiểu 0,5 MΩ, tới 500 V thử 500 V tối thiểu 1 MΩ, trên 500 V thử 1000 V tối thiểu 1 MΩ
Mức tối thiểu cho mạch lắp đặt hạ áp.

Mạch 220/380 V trong nhà, nhà xưởng thì thử 500 V một chiều. Nên nhớ đây là mức tối thiểu của tiêu chuẩn lắp đặt. Với thiết bị cụ thể, hãy theo tài liệu của hãng và quy định an toàn đang áp dụng tại nơi làm việc. Khi kiểm tra định kỳ, xu hướng theo thời gian quan trọng hơn con số đơn lẻ.

3. Chuẩn bị trước khi đo

  1. Cắt điện, khóa aptomat, treo biển. Kiểm tra lại bằng bút thử hoặc đồng hồ có cấp an toàn phù hợp.
  2. Tháo thiết bị điện tử: biến tần, bộ khởi động mềm, PLC, đèn LED, ổ cắm có mạch, thiết bị chống sét, tụ bù. Điện áp thử có thể phá hỏng chúng.
  3. Xả điện cáp và cuộn dây xuống đất.
  4. Làm sạch bụi, dầu ở đầu nối; ghi lại nhiệt độ và độ ẩm.
  5. Kiểm tra máy: nối tắt hai dây đo, chỉ khoảng 0; để hở, chỉ vô cùng.

4. Đo động cơ ba pha

Sơ đồ nối megohmmeter đo động cơ ba pha: dây L vào cuộn dây, ba pha nối chung, dây E vào vỏ đã cạo sạch sơn, chân G không dùng
Đo giữa cuộn dây và vỏ động cơ.
  1. Tháo cáp động cơ khỏi biến tần hoặc khởi động từ, để đo riêng động cơ.
  2. Nối tắt ba đầu U, V, W nếu đo pha với vỏ. Đầu L vào cuộn dây, E vào vỏ.
  3. Đo 60 giây ở 500 V, ghi số.
  4. Muốn đo giữa các pha, tháo cầu nối sao hoặc tam giác, đo U–V, V–W, W–U. Ba số phải tương đương nhau.
  5. Xả điện cuộn dây ít nhất bằng bốn lần thời gian thử, hoặc tới khi đo không còn điện áp.

Với tủ điện, tắt các aptomat nhánh, đo lần lượt giữa từng pha với PE, và giữa các pha với nhau, sau khi tháo thiết bị nhạy cảm. Cáp dài có điện dung lớn nên cần thời gian nạp lâu hơn.

5. Chỉ số phân cực PI và DAR

Đồ thị điện trở đọc được theo thời gian: cách điện tốt tăng từ khoảng 1000 MΩ lên 3171 MΩ, PI khoảng 3; cách điện ẩm đứng ở khoảng 300 tới 380 MΩ, PI khoảng 1,25
Số giả định để thấy hình dạng đường cong.

Với cách điện tốt và khô, dòng hấp thụ giảm dần nên điện trở đọc được tăng mãi trong nhiều phút. Khi cách điện ẩm hoặc bẩn, dòng rò lớn che khuất dòng hấp thụ, điện trở sớm nằm ngang. Từ đó có hai chỉ số không phụ thuộc nhiều vào nhiệt độ và kích thước máy:

  • DAR = R 60 giây / R 30 giây.
  • PI = R 10 phút / R 1 phút. Với cách điện cấp B, F, H, thường lấy PI từ 2 trở lên là tốt, dưới 1,5 cần kiểm tra thêm. Khi điện trở 1 phút đã rất cao, trên khoảng 5000 MΩ, số PI có thể không còn ý nghĩa.

Script dưới đây tính các đường trong hình, và quy đổi nhiệt độ. Điện trở cách điện giảm mạnh khi nóng: theo quy tắc gần đúng, cứ tăng 10 °C thì giảm một nửa. Muốn so hai lần đo, quy về cùng 40 °C, ví dụ 100 MΩ đo ở 25 °C tương đương khoảng 35 MΩ ở 40 °C.

# PYWORLD.VN - Mô phỏng điện trở cách điện đọc được theo thời gian khi đo bằng megohmmeter: dòng nạp, dòng hấp thụ, dòng rò
# PYWORLD.VN - Tính chỉ số hấp thụ DAR (60 s / 30 s), chỉ số phân cực PI (10 phút / 1 phút), quy đổi về 40 độ C
# PYWORLD.VN - Chạy: python mo_phong_cach_dien.py          (chỉ dùng thư viện chuẩn; số của cuộn dây là giả định)
import math

U = 500.0              # V điện áp thử


def dong_uA(t: float, nap_uA: float, tau_s: float, hap_thu_uA: float, ro_uA: float) -> float:
    """Tổng ba dòng tại thời điểm t giây: dòng nạp tụ, dòng hấp thụ của điện môi, dòng rò."""
    return nap_uA * math.exp(-t / tau_s) + hap_thu_uA * t ** -0.6 + ro_uA


def r_megaom(t: float, mau: dict) -> float:
    return U / dong_uA(t, **mau)


TOT = {"nap_uA": 50, "tau_s": 2, "hap_thu_uA": 5.0, "ro_uA": 0.05}
AM = {"nap_uA": 50, "tau_s": 2, "hap_thu_uA": 5.0, "ro_uA": 1.2}


def chi_so(mau: dict) -> tuple[float, float, float, float]:
    r1, r10 = r_megaom(60, mau), r_megaom(600, mau)
    return r_megaom(30, mau), r1, r10, r10 / r1


def quy_doi_40C(r_do: float, t_do: float) -> float:
    """Quy tắc gần đúng: nhiệt độ tăng 10 độ C thì điện trở cách điện giảm một nửa."""
    return r_do * 0.5 ** ((40 - t_do) / 10)


if __name__ == "__main__":
    for ten, mau in (("Cach dien tot", TOT), ("Cach dien am", AM)):
        r30, r1, r10, pi = chi_so(mau)
        print(f"{ten}: R 30 s {r30:.0f} MOhm, 1 phut {r1:.0f} MOhm, 10 phut {r10:.0f} MOhm, DAR {r1 / r30:.2f}, PI {pi:.2f}")
    print("Do 100 MOhm o 25 C, quy doi 40 C:", round(quy_doi_40C(100, 25), 1), "MOhm")

6. Đọc kết quả

Bảng đọc kết quả đo cách điện: gần 0 MΩ, thấp giảm khi tăng điện áp, thấp tăng sau khi sấy, tụt nhanh so với lần trước, rất cao và PI từ 2 trở lên
Luôn ghi nhiệt độ, độ ẩm vào sổ.

Số thấp không phải lúc nào cũng là cuộn dây hỏng. Động cơ để lâu trong kho ẩm thường thấp, sấy 12–24 giờ bằng đèn hoặc dòng thấp có thể phục hồi. Nếu số tăng rồi ổn định sau khi sấy thì cách điện còn dùng được. Không cấp điện cho động cơ có điện trở quá thấp: dòng rò có thể đốt cháy cuộn dây.

7. Lỗi thường gặp khi đo

Hiện tượngNguyên nhânCách xử lý
Số đọc nhảy liên tụcDây đo chạm tay, chạm nền ẩm; có nhiễu từ cáp bên cạnhTách dây đo, làm sạch bề mặt, dùng đầu G
Đo rất thấp ở mọi thiết bịPin yếu, dây đo hỏng cách điệnThử dây đo riêng, thay pin
Đo được nhưng thiết bị điện tử hỏngChưa tháo mạch khi đoTháo trước; ở mạch có điện tử dùng 250 V hoặc theo hãng
Bị giật sau khi tháo dâyChưa xả điệnXả điện qua điện trở phù hợp hoặc nút xả của máy
Cáp mới mà đo thấpĐầu cáp bẩn, ẩmLau sạch, cách ly đầu cáp, đo lại

8. Xem thêm

Phân biệt công việc này với đo thông thường: xem cách dùng đồng hồ vạn năng. Về nguyên tắc an toàn điện: điện một chiều, xoay chiều và an toàn 220 V.

Bài cùng cụm chủ đề: cấp an toàn CAT của đồng hồ; aptomat và RCD; an toàn khi làm mạch 220 V.


Tin tức liên quan

Đo dao động công trình: chọn gia tốc kế theo mức nhiễu, dải đo, tần số lấy mẫu và độ dài bản ghi
Đo dao động công trình: chọn gia tốc kế theo mức nhiễu, dải đo, tần số lấy mẫu và độ dài bản ghi

Đo dao động công trình nhà, sàn, cầu, móng máy: dải tần và biên độ điển hình, chọn gia tốc kế theo mật độ nhiễu µg/√Hz, MEMS hay IEPE, tần số lấy mẫu 2,56 lần, độ dài bản ghi, quy trình đo.

Giáo dục STEM là gì? STEM, STEAM khác nhau thế nào và vì sao giúp trẻ phát triển tư duy
Giáo dục STEM là gì? STEM, STEAM khác nhau thế nào và vì sao giúp trẻ phát triển tư duy

Giáo dục STEM là gì, gồm những lĩnh vực nào, STEM và STEAM khác nhau ra sao, giáo dục STEM ở trường phổ thông Việt Nam và cách bắt đầu STEM với trẻ ở nhà theo độ tuổi.

IC 555: chế độ dao động và đơn ổn, cách tính tần số và thời gian
IC 555: chế độ dao động và đơn ổn, cách tính tần số và thời gian

IC 555 là gì, sơ đồ chân và cấu tạo bên trong, mạch đơn ổn tạo trễ và mạch dao động nháy LED, nguồn gốc công thức t = 1,1RC và f = 1,44/((R1 + 2R2)C), bảng giá trị và mạch tạo trễ relay.

Các nguồn sai số khi đo lực bằng load cell: lệch tâm, rão, trễ, nhiệt độ và ngân sách sai số
Các nguồn sai số khi đo lực bằng load cell: lệch tâm, rão, trễ, nhiệt độ và ngân sách sai số

Vì sao đo lực thực tế sai hơn phiếu thông số load cell: lệch tâm và gá lắp, rão, trễ, phi tuyến, nhiệt độ, cáp và bộ đọc; ví dụ ngân sách sai số và danh sách kiểm tra nhanh.

Chuẩn rung: hiệu chuẩn gia tốc kế bằng giao thoa laser và so sánh theo ISO 16063, đáp ứng tần số
Chuẩn rung: hiệu chuẩn gia tốc kế bằng giao thoa laser và so sánh theo ISO 16063, đáp ứng tần số

Hiệu chuẩn gia tốc kế theo ISO 16063: dịch chuyển, vận tốc, gia tốc theo tần số, phương pháp giao thoa laser và so sánh lưng tựa lưng, đọc đáp ứng tần số và chuỗi liên kết chuẩn rung.

Chuẩn IP67 là gì? Vali chống nước IP67 bảo vệ thiết bị ra sao
Chuẩn IP67 là gì? Vali chống nước IP67 bảo vệ thiết bị ra sao

IP67 nghĩa là kín bụi hoàn toàn và chịu ngâm tạm thời tới 1 m trong 30 phút. Bài giải thích cách đọc mã IP, vali chống nước kín nhờ gioăng và chốt ép, giới hạn của IP67 và cách giữ vali luôn kín.

Cảm biến biến dạng (strain gauge): cấu tạo, nguyên lý, các loại, chế tạo và đo bằng ADS1115, ESP32
Cảm biến biến dạng (strain gauge): cấu tạo, nguyên lý, các loại, chế tạo và đo bằng ADS1115, ESP32

Cảm biến biến dạng hoạt động thế nào: vì sao điện trở đổi khi bị kéo, gauge factor, strain gauge lá kim loại, bán dẫn, dây rung, sợi quang, bù nhiệt, cách chế tạo và đo µε bằng ADS1115, ESP32.

Chọn bo mạch lập trình đầu tiên cho học sinh: ESP32, Arduino Nano hay micro:bit
Chọn bo mạch lập trình đầu tiên cho học sinh: ESP32, Arduino Nano hay micro:bit

So sánh ESP32 DevKit V1, Arduino Nano và micro:bit cho học sinh: có sẵn gì trên mạch, lập trình bằng gì, làm được dự án gì, chọn theo mục tiêu và những thứ cần mua kèm.


Bình luận
Đã thêm vào giỏ hàng