Cảm biến quang: thu phát, phản xạ gương, khuếch tán, triệt nền – cấu tạo, nguyên lý và chế tạo

Cảm biến quang hoạt động thế nào: bốn kiểu thu phát, phản xạ gương, khuếch tán, triệt nền; điều chế ánh sáng chống nhiễu, cấu tạo, cách chế tạo và làm cảm biến phản xạ có điều chế với ESP32.

Cảm biến quang (photoelectric sensor) dùng một chùm ánh sáng để phát hiện vật: đếm chai trên băng tải, báo người đi qua cửa tự động, dò vạch kẻ cho robot, phát hiện tờ giấy trong máy in. Ánh sáng không cần chạm vào vật, đi được xa và phản ứng trong vài phần nghìn giây, nên đây là loại cảm biến phát hiện vật dùng nhiều nhất trong tự động hóa, cùng với cảm biến tiệm cận. Bài viết giải thích bốn kiểu bố trí (thu – phát, phản xạ gương, phản xạ khuếch tán, triệt nền), cách điều chế ánh sáng để không bị đèn và nắng làm nhiễu, cấu tạo bên trong, quy trình chế tạo, và cách tự làm cảm biến phản xạ có điều chế bằng TCRT5000 và ESP32.

1. Bốn kiểu bố trí

Bốn kiểu cảm biến quang: thu phát với bộ phát và bộ thu ở hai đầu, vật chắn ngang tia; phản xạ gương với tia dội lại từ tấm phản quang; phản xạ khuếch tán với ánh sáng tán xạ từ bề mặt vật; triệt nền đo góc tia phản xạ để bỏ qua nền ở xa
Bốn kiểu bố trí cảm biến quang (hình tự vẽ).
KiểuHoạt độngKhoảng phát hiện thường gặpLưu ý
Thu – phátBộ phát và bộ thu đặt đối diện; vật cắt ngang tiaTới vài chục métChắc chắn nhất, ít bị ảnh hưởng bởi màu vật; phải đi dây hai đầu
Phản xạ gươngMột khối phát và thu, tia dội lại từ tấm phản quangTới khoảng 10 mVật bóng có thể dội tia lại như tấm phản quang; loại có kính lọc phân cực khắc phục được
Phản xạ khuếch tánÁnh sáng tán xạ từ chính bề mặt vật quay về bộ thuVài cm đến khoảng 1–2 mChỉ một đầu dây, dễ lắp; vật đen phát hiện được ở khoảng ngắn hơn vật trắng
Triệt nềnĐo góc tia phản xạ (tam giác lượng) để biết vật ở gần hay xaVài cm đến khoảng 1 mBỏ qua nền phía sau vật, ít phụ thuộc màu
Hai cảm biến quang chữ U màu đen gắn trên mạch in, mỗi cảm biến có LED trong suốt một bên và đi-ốt quang màu xanh bên kia khe hở
Cảm biến quang chữ U (kiểu thu – phát thu nhỏ) trên mạch của một chiếc cân, dùng để đếm vòng quay của bánh xe có rãnh. Ảnh: Raimond Spekking, CC BY-SA 4.0, Wikimedia Commons, đã thu nhỏ.

2. Điều chế ánh sáng: vì sao đèn và nắng không làm cảm biến báo sai

Giản đồ điều chế ánh sáng: LED phát xung đều, tín hiệu ở bộ thu gồm nền thay đổi chậm cộng với các xung phản xạ, sau khi lấy lúc LED tắt trừ lúc LED bật chỉ còn các cột bằng nhau là phần phản xạ
LED phát xung, bên thu chỉ lấy phần thay đổi đúng nhịp với LED (hình tự vẽ, dạng sóng minh họa).

Đi-ốt quang không phân biệt ánh sáng của LED với ánh sáng đèn, ánh nắng. Nếu LED sáng liên tục, chỉ cần bật đèn phòng là mức tín hiệu đổi và cảm biến báo sai. Cảm biến quang công nghiệp vì thế cho LED phát xung ở tần số vài kHz đến vài chục kHz, và bên thu dùng mạch tách sóng đồng bộ: chỉ đo phần tín hiệu thay đổi cùng nhịp với LED. Ánh sáng nền thay đổi chậm (hoặc nhấp nháy 100 Hz theo điện lưới) bị loại bỏ.

Chương trình thực hành ở cuối bài làm đúng việc này bằng phần mềm: đo khi LED tắt, đo khi LED bật, lấy hiệu.

Hai lăng kính góc bằng thủy tinh: một chiếc nhìn nghiêng thấy ba mặt vuông góc, một chiếc nhìn từ mặt trước thấy các cạnh chia sáu phần
Lăng kính góc: ba mặt vuông góc với nhau dội tia sáng ngược về đúng hướng tới. Tấm phản quang của cảm biến phản xạ gương là hàng nghìn lăng kính góc nhỏ đúc bằng nhựa. Ảnh: Claudioatlares (it.wikipedia), CC BY-SA 3.0, Wikimedia Commons, đã thu nhỏ.

Tấm phản quang dùng lăng kính góc thay vì gương phẳng vì nó trả tia sáng về đúng phía cảm biến ngay cả khi lắp hơi nghiêng. Lăng kính góc còn làm quay mặt phẳng phân cực của ánh sáng; cảm biến phản xạ gương có kính lọc phân cực lợi dụng điều này để phân biệt tấm phản quang với một vật sáng bóng (vật bóng dội lại ánh sáng giữ nguyên phân cực).

3. Cấu tạo bên trong

Bên trong cảm biến quang phản xạ khuếch tán: thấu kính phát trước LED hồng ngoại hoặc đỏ, thấu kính thu trước đi-ốt quang, IC xử lý điều chế và tách sóng, đèn báo, núm chỉnh độ nhạy và cáp; tia phát tới vật và tia phản xạ quay về thấu kính thu
Các bộ phận của cảm biến quang phản xạ khuếch tán (hình tự vẽ).
  • Nguồn sáng: LED hồng ngoại (đi xa hơn, không nhìn thấy), LED đỏ (dễ căn tia bằng mắt), LED xanh (tốt với bề mặt bóng) hoặc laser (điểm sáng nhỏ, phát hiện vật bé).
  • Bộ thu: đi-ốt quang hoặc phototransistor, thường có kính lọc chỉ cho bước sóng của LED đi qua. Loại triệt nền dùng đi-ốt quang hai vùng hoặc mảng cảm biến để đo vị trí điểm sáng.
  • Thấu kính: gom tia phát thành chùm hẹp và gom ánh sáng phản xạ về bộ thu.
  • IC xử lý: tạo xung LED, tách sóng đồng bộ, so ngưỡng có độ trễ, điều khiển tầng ra NPN hoặc PNP. Chế độ "sáng thì tác động" (light-ON) hoặc "tối thì tác động" (dark-ON) chọn bằng dây hoặc công tắc.
  • Đèn báo và núm chỉnh nhạy: đèn báo tác động, có loại thêm đèn báo tín hiệu yếu khi ống kính bẩn.

4. Chế tạo cảm biến quang

Sáu bước chế tạo cảm biến quang: chip LED và đi-ốt quang chế tạo trên tấm bán dẫn, đóng gói quang với thấu kính nhựa, mạch xử lý tạo xung và tách sóng, căn quang học, vỏ và đổ keo, hiệu chuẩn và kiểm tra bằng tấm thử trắng chuẩn
Các bước chính chế tạo cảm biến quang (hình tự vẽ).
  1. Chip phát và thu: chip LED hồng ngoại làm từ hợp chất bán dẫn như GaAs, AlGaAs; đi-ốt quang và phototransistor làm từ silic. Cả hai được chế tạo hàng loạt trên tấm bán dẫn như vi mạch.
  2. Đóng gói quang: gắn chip lên khung chân, hàn dây vàng, đúc nhựa trong suốt có sẵn thấu kính; bộ thu thường đúc bằng nhựa màu sẫm chỉ cho hồng ngoại đi qua.
  3. Mạch xử lý: IC chuyên dụng trên mạch in nhỏ, cùng tầng ra có bảo vệ ngắn mạch và đảo cực.
  4. Căn quang học: chỉnh vị trí thấu kính, LED, bộ thu sao cho tia phát và vùng nhìn của bộ thu giao nhau đúng khoảng làm việc; vách ngăn chặn ánh sáng rò trực tiếp từ LED sang bộ thu.
  5. Vỏ và đổ keo: vỏ nhựa hoặc kim loại, kính chắn trước bằng nhựa PMMA, đổ keo đạt chuẩn chống nước.
  6. Kiểm tra: dùng tấm thử trắng chuẩn ở khoảng định mức, đo thời gian đáp ứng, thử với ánh sáng nền mạnh và với nguồn sáng nhấp nháy.

5. Thực hành: cảm biến phản xạ có điều chế với TCRT5000 và ESP32

TCRT5000 là cảm biến phản xạ nhỏ gồm một LED hồng ngoại 950 nm và một phototransistor đặt cạnh nhau, khoảng làm việc tốt nhất vài milimét (thường dùng dò vạch cho robot). Ở đây ESP32 tự bật tắt LED và trừ ánh sáng nền, đúng nguyên lý điều chế của cảm biến công nghiệp.

Linh kiện

Sơ đồ nối

Sơ đồ nối TCRT5000 với ESP32: chân A của LED qua điện trở 150 ôm tới GPIO25, chân K và chân E nối GND, chân C của phototransistor nối D34 và qua điện trở 10 kilôôm lên 3V3
Sơ đồ nối TCRT5000 để ESP32 bật tắt LED và đọc phototransistor (hình tự vẽ).
Chân TCRT5000Nối tới
A (anot LED)Qua điện trở 150 Ω tới GPIO25 (dòng LED khoảng 14 mA)
K (catot LED), E (cực phát)GND
C (cực thu)D34; thêm điện trở 10 kΩ từ D34 lên 3V3

Chương trình

/*
  PYWORLD.VN - Cảm biến quang phản xạ có điều chế với ESP32: bật tắt LED hồng ngoại liên tục và trừ ánh sáng nền
  LED hồng ngoại của TCRT5000 nối GPIO25 qua điện trở 150 Ω; phototransistor: cực C qua 10 kΩ lên 3V3 và vào D34, cực E xuống GND
  Hiệu điện áp giữa lúc LED tắt và lúc LED bật chỉ còn phần ánh sáng phản xạ từ vật, gần như không phụ thuộc đèn trong phòng
*/

#define CHAN_LED 25
#define CHAN_THU 34

const int SO_CHU_KY = 20;          // Số lần bật tắt LED cho mỗi kết quả
const int CHO_ON_DINH_US = 300;    // Chờ phototransistor ổn định sau mỗi lần đổi trạng thái LED
const float NGUONG_MV = 400.0;     // Phần phản xạ lớn hơn ngưỡng: có vật
const float DO_TRE_MV = 100.0;     // Phải nhỏ hơn (ngưỡng - độ trễ) mới coi là hết vật
const float NEN_QUA_SANG_MV = 150.0;

bool coVat = false;

void setup() {
  Serial.begin(115200);
  pinMode(CHAN_LED, OUTPUT);
  digitalWrite(CHAN_LED, LOW);
  analogSetPinAttenuation(CHAN_THU, ADC_11db);
  Serial.println("\nCam bien quang phan xa co dieu che (TCRT5000)");
}

void loop() {
  uint32_t tongTat = 0, tongBat = 0;
  for (int i = 0; i < SO_CHU_KY; i++) {
    digitalWrite(CHAN_LED, LOW);
    delayMicroseconds(CHO_ON_DINH_US);
    tongTat += analogReadMilliVolts(CHAN_THU);   // Chỉ có ánh sáng nền
    digitalWrite(CHAN_LED, HIGH);
    delayMicroseconds(CHO_ON_DINH_US);
    tongBat += analogReadMilliVolts(CHAN_THU);   // Ánh sáng nền + phản xạ của LED
  }
  digitalWrite(CHAN_LED, LOW);

  float nen = (float)tongTat / SO_CHU_KY;
  float khiBat = (float)tongBat / SO_CHU_KY;
  // Nhiều ánh sáng thì phototransistor dẫn mạnh, điện áp D34 giảm; nên lấy lúc tắt trừ lúc bật
  float phanXa = nen - khiBat;

  if (!coVat && phanXa > NGUONG_MV) {
    coVat = true;
  } else if (coVat && phanXa < NGUONG_MV - DO_TRE_MV) {
    coVat = false;
  }
  const char *trangThai = coVat ? "CO VAT" : "khong co vat";
  if (nen < NEN_QUA_SANG_MV) {
    trangThai = "NEN QUA SANG, che bot anh nang";
  }
  Serial.printf("Nen %4.0f mV | LED bat %4.0f mV | Phan xa %4.0f mV | %s\n", nen, khiBat, phanXa, trangThai);
  delay(200);
}

Giải thích

  • Mỗi kết quả gồm 20 chu kỳ: tắt LED, chờ 300 µs, đo; bật LED, chờ 300 µs, đo. Thời gian chờ để phototransistor kịp ổn định.
  • Phototransistor càng nhận nhiều sáng thì điện áp D34 càng thấp, nên phần phản xạ = điện áp khi tắt − điện áp khi bật.
  • Ánh sáng nền làm cả hai lần đo cùng giảm, hiệu gần như không đổi. Nhưng khi nắng quá mạnh, phototransistor bão hòa (điện áp gần 0) và không còn chỗ cho phần phản xạ: chương trình báo "NEN QUA SANG".
  • Ngưỡng 400 mV và độ trễ 100 mV tùy khoảng cách và màu vật; quan sát giá trị "Phan xa" rồi chỉnh.

Kết quả mong đợi

Hình minh họa Serial Monitor cảm biến quang có điều chế: điện áp khi LED tắt, khi LED bật và phần phản xạ; bật đèn phòng làm nền thay đổi nhưng phần phản xạ vẫn nhỏ; đưa tay lại gần phần phản xạ vượt 900 mV và báo có vật; chiếu nắng thẳng báo nền quá sáng
Kết quả mong đợi trên Serial Monitor (hình minh họa; điện áp là ví dụ).

So sánh: nếu chỉ đọc điện áp D34 khi LED luôn bật (cách đọc đơn giản thường gặp), bật đèn phòng thôi cũng làm điện áp giảm vài trăm mV, đủ để báo sai. Với cách điều chế, phần phản xạ gần như không đổi.

6. Xử lý lỗi thường gặp

Hiện tượngNguyên nhân thường gặpCách xử lý
Phần phản xạ luôn gần 0LED không sáng (nối ngược A, K), điện trở quá lớnNhìn LED qua camera điện thoại sẽ thấy ánh tím; kiểm tra chiều LED
Phần phản xạ luôn lớn dù không có vậtÁnh sáng đi thẳng từ LED sang phototransistor, mặt bàn quá gầnNgăn giữa LED và bộ thu, nâng cảm biến lên khỏi mặt bàn
Vật đen không được phát hiệnVật đen hấp thụ hồng ngoạiGiảm ngưỡng, đưa cảm biến gần hơn, hoặc dùng kiểu thu – phát
Cảm biến công nghiệp báo sai với vật bóngDùng kiểu phản xạ gương không có kính lọc phân cựcDùng loại phân cực hoặc kiểu thu – phát
Hai cảm biến đặt cạnh nhau làm nhiễu lẫn nhauTia của cảm biến này lọt vào cảm biến kiaĐặt lệch hướng, dùng loại có chống nhiễu lẫn nhau

7. Xem thêm


Tin tức liên quan

Modbus RTU (phần 1): khung tin, mã hàm, CRC và ESP32 làm thiết bị chủ
Modbus RTU (phần 1): khung tin, mã hàm, CRC và ESP32 làm thiết bị chủ

Giải thích Modbus RTU ở mức từng byte: khung tin, bốn vùng dữ liệu, mã hàm đọc ghi, khung báo lỗi. Kèm chương trình ESP32 làm thiết bị chủ đọc thanh ghi và ghi cuộn qua RS-485, không dùng thư viện.

Máy đo rung: kiểm tra hiện trường bằng bộ hiệu chuẩn 159,2 Hz, vị trí đo và vùng đánh giá ISO 20816
Máy đo rung: kiểm tra hiện trường bằng bộ hiệu chuẩn 159,2 Hz, vị trí đo và vùng đánh giá ISO 20816

Kiểm tra máy đo rung bằng bộ hiệu chuẩn cầm tay 159,2 Hz, 10 m/s², đo đúng vị trí và hướng trên ổ đỡ, đánh giá vùng A, B, C, D theo ISO 20816 và hiệu chuẩn máy đo rung ở phòng thí nghiệm.

Đo biến dạng bằng cảm biến strain gauge
Đo biến dạng bằng cảm biến strain gauge

Giải thích strain, hệ số gauge, cầu Wheatstone, cấu hình quarter/half/full bridge và các bước thiết lập phép đo biến dạng tin cậy.

Chuẩn lực: máy tải trọng chết, đòn bẩy, khuếch đại thủy lực, máy so sánh và gia tốc trọng trường
Chuẩn lực: máy tải trọng chết, đòn bẩy, khuếch đại thủy lực, máy so sánh và gia tốc trọng trường

Bốn kiểu máy chuẩn lực: tải trọng chết, đòn bẩy, khuếch đại thủy lực, máy so sánh; cách tính lực từ quả cân, vì sao g tại Việt Nam lệch 0,25 % và chuỗi liên kết chuẩn lực.

Độ không đảm bảo đo theo GUM: sáu bước tính, loại A, loại B và ví dụ ngân sách hiệu chuẩn áp kế
Độ không đảm bảo đo theo GUM: sáu bước tính, loại A, loại B và ví dụ ngân sách hiệu chuẩn áp kế

Cách tính độ không đảm bảo đo theo GUM: sáu bước, đánh giá loại A và loại B, phân bố chuẩn, chữ nhật, tam giác, ví dụ ngân sách hiệu chuẩn áp kế, cách làm tròn và lỗi hay gặp.

Cảm biến mô men xoắn: cấu tạo, nguyên lý strain gauge 45°, cách chế tạo và bàn thử công suất
Cảm biến mô men xoắn: cấu tạo, nguyên lý strain gauge 45°, cách chế tạo và bàn thử công suất

Cảm biến mô men xoắn hoạt động thế nào: strain gauge xiên 45° trên trục, vành trượt, biến áp quay, đo góc xoắn, từ giảo, cách chế tạo và bàn thử mô men, công suất với ESP32.

RS-485 là gì: cặp dây vi sai, điện trở đầu cuối và cách dùng module MAX485 với ESP32
RS-485 là gì: cặp dây vi sai, điện trở đầu cuối và cách dùng module MAX485 với ESP32

Giải thích chuẩn RS-485: tín hiệu vi sai trên hai dây A, B, điện trở đầu cuối 120 Ω, truyền bán song công với chân DE, RE. Kèm sơ đồ nối module MAX485 và chương trình hỏi đáp giữa hai mạch ESP32.

ISO/IEC 17025 và công nhận VILAS: yêu cầu với phòng hiệu chuẩn, đọc danh mục, CMC và chỉ số En
ISO/IEC 17025 và công nhận VILAS: yêu cầu với phòng hiệu chuẩn, đọc danh mục, CMC và chỉ số En

ISO/IEC 17025 yêu cầu gì với phòng hiệu chuẩn, công nhận VILAS có ý nghĩa gì, cách đọc danh mục phạm vi công nhận, CMC khác độ không đảm bảo, so sánh liên phòng và chỉ số En.


Bình luận
Đã thêm vào giỏ hàng